Điện thoại hỗ trợ:
GIANG- 0888837017 02973883454

Vị trí địa lý - Lịch sử hình thành huyện U Minh Thượng

Ngày đăng: 26-10-2017 23:58:18

                  1.Vị trí địa lý

       U Minh Thượng là một huyện thuộc tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.Địa giới hành chính huyện U Minh Thượng: Đông giáp huyện Vĩnh Thuận; Tây giáp huyện An Biên, An Minh; Nam giáp tỉnh Cà Mau; Bắc giáp huyện Gò Quao.

       Bạn hãy link  vào  [Tại đây]) để xem vị trí khu trung tâm hành chính của U Minh Thượng.

                  2. Lịch sử

       Vùng U Minh Thượng trước đây gồm 3 huyện An Minh, An Biên và Vĩnh Thuận là căn cứ cách mạng trong các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ và có lúc là căn cứ của nghĩa quân Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí Võ Văn Kiệt và một số đồng chí lão thành Cách mạng xây dựng lại cơ sở, gây dựng lại phong trào. Và từ đó, U Minh Thượng là căn cứ Cách mạng của Liên Tỉnh ủy Cần Thơ, sau đó là Liên Tỉnh ủy Hậu Giang, đồng thời là nơi thành lập Tỉnh ủy lâm thời Rạch Giá. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nơi đây là căn cứ của Quân khu 9, Xứ ủy, Trung ương Cục Miền Nam, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ. U Minh Thượng có kinh xáng Chắc Băng là trung tâm khu tập kết 200 ngày thi hành Hiệp định Giơnevơ của miền Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, U Minh Thượng là căn cứ của Khu ủy, Quân khu 9, Tỉnh ủy Rạch Giá từ 1954 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Khu căn cứ U Minh Thượng đã được công nhận là di tích lịch sử Quốc gia.

       Vùng miệt thứ huyện U Minh Thượng thời xưa có nhiều xã, nhiều nơi được nhắc đến về những trận đánh lịch sử oai hùng, những địa danh từ những trận lịch sử lớn lao mà hình thành nên được những cái tên gọi ấy, có nơi ngày xưa tất cả các dân làng đi lánh nạn của bom giặc quy tụ về rất đông tạo thành một vùng từ đó đã nổi lên các anh hùng chống giặc. Các xã có lịch sử oai hùng như: xã Vĩnh Hòa, Hòa Chánh, Minh Thuận, An Minh Bắc, Thạnh Yên.

             3. Lịch sử hình thành một số xã anh hùng

                              a. Xã Vĩnh Hòa

       Vĩnh Hòa là một vùng đất cổ, có những di chỉ văn hóa lâu đời so với nhiều xã ở vùng tây sông Hậu. Trước hết là lòng sông cổ, có một nhánh của con sông Cái Lớn  ngầm với  lớp rừng U Minh trùm phủ. Sông rẽ ra nhiều nhánh chạy qua các ấp Vĩnh Thành, Vĩnh Tiến. Nhánh rẽ bắc, qua ấp Vĩnh Thạnh. Nhánh rẽ nam, một qua xã Vĩnh Bình Nam, một ngoặc về xã Trí Phải (Minh Hải). Con sông cổ này người ta tìm thấy có những trụ sàn gỗ của một ngôi nhà, những trụ cột của một con đập ngăn chặn nước mặn được bày lên sau lớp mùn phủ khi được khai hoang, một cụm cọc gỗ chắn ở ngã tư Ấp Khân - Lộ Mới, một cụm gỗ cọc sàn nhà ở kinh Ba, kinh Tư xã Vĩnh Thuận. Một chiếc ghe cổ ở Vĩnh Tiến có chiều dài 13,5 mét và rộng 6 mét. Một khu nền liếp, nền nhà cổ ở gần Kè Một, chứa nhiều mảnh gốm cổ. Những di chỉ này cho phép chúng ta khẳng định vùng đất Vĩnh Hòa ngày xưa, thuở chưa có rừng U Minh thì đã có loài người sinh sống. Họ sinh sống ở đây là từ niên đại nào? Đời sống văn hóa, xã hội ra sao? Việc này chúng ta xin nhường cho những nhà khảo cổ học nghiên cứu để kết luận.

     Vài nét về lịch sử xã Vĩnh Hòa ta thấy sách “ Gia Định Thành Thông Chí” của nhà học giả Trịnh Hoài Đức viết năm 1820, có đoạn ghi: “Huyện Kiên Giang thuộc trấn Hà Tiên vừa mới đặt gồm 2 tổng, trong đó có tổng Thanh Giang cũng vừa mới đặt, gồm 3 thôn: Vĩnh Thuận, Vĩnh Hòa, Thái An và một làng Đông An bao quát cả một địa vực mênh mông”

      Trong sách “Nguyễn Triều Hưng Long sự tích” biên soạn vào thời vua Gia Long (1801-1820). Một quan văn tên Trần Văn Tân có ghi một đoạn rất chi tiết: “Lúc quân Xiêm đại bại (trận Rạch Gầm), thế tổ Gia Long phải ẩn danh, giả dạng thường dân, chỉ có Một tiểu tốt là đội Trị theo hầu, lúc đi đường bộ, lúc đi thuyền. Tới rạch Sài Quang ( rạch Thầy Quơn), vào thôn Vĩnh Hòa, Ngài mới gặp các quan tòng vong, lúc đó vua tôi cùng xuống thuyền đi về cảng Hà Tiên, ra Phú Quốc”.

      Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” soạn vào cuối thời Tự Đức, nói về nguồn kinh tế thiên nhiên thời ở đây: “ở chỗ giáp hai huyện Kiên Giang và Long Xuyên ( Cà Mau), cỏ cây rậm rạp, dài rộng bao la mịt mù, làm chỗ sào huyệt cho loại điểu thú. Sở Điều Đình ở địa phận thôn Đông An và thôn Vinh Hòa, có một sở Điều Đình, những loài chim ngoài biển đến đậu từng bầy  không biết muôn ngàn nào kể. Thường năm, đến kỳ đẻ trứng, có Trà hộ ngạch bảo lãnh nộp thuế, gọi thuế “Điều Đình” để lấy lông cánh bán cho thương buôn người Hoa”.

      Năm 1888, huyện Kiên Giang hợp nhất với huyện Long Xuyên ( Cà Mau) lấy tên là huyện Rạch Giá bấy giờ có 4 tổng, 68 xã, xã Vĩnh Hòa bây giờ thuộc một trong 18 xã của tổng Thanh Giang.

      Ngày 1-1-1900, thực dân Pháp chia Nam Kỳ ra làm 20 tỉnh, Rạch Giá trở thành một tỉnh, gồm 4 quận, xã Vĩnh Hòa là một xã nằm trong tổng Thanh Biên, quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá. Năm 1908, Rạch Giá lập thêm quận Gò Quao, thị xã Vĩnh Hòa thuộc tổng Thanh Biên, quận Gò Quao. Đến năm 1936, tổng Thanh Biên đổi thành quận An Biên, xã Vĩnh Hòa được giao cho quận Gò Quao. Năm 1951, tỉnh Rạch Giá bị sát nhập với Cần Thơ và Bạc Liêu, thị xã Vĩnh Hòa được giao về huyện Hồng Dân (ta đã nổi tiếng quận thành huyện vào năm 1948) năm 1954 tỉnh Rạch Giá được thành lập lại, xã Vĩnh Hòa được chính quyền Mỹ- Diệm xếp vào khu An Phước, ta thì xếp vào huyện An Biên. Đến cuối năm 1963, tỉnh Rạch Giá thành lập huyện Vĩnh Thuận thì xã Vĩnh Hòa thuộc một trong những xã của huyện Vĩnh Thuận, ngụy quyền gọi là quận Kiên Long.

=>Các bạn có thể click [Tại đây] để xem vị trí của xã Vĩnh Hòa

                              b. Xã Hòa Chánh

       Trụ sở xã Hòa Chánh

           Sông cái lớn con sông mẹ của vùng đất Kiên Giang, dòng chảy đối lưu đôi lúc chia Kiên Giang ra đôi bờ. Sông cái chứa đựng biết bao ẩn tích của những chiến tích hào hùng của nhân dân Kiên Giang trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, con sông này cũng là con sông nguồn của dòng sông huyết mạch thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà. Mỗi ngã ba sông là nơi bắt đầu về những câu chuyện về 1 vùng đất mới.

Hòa Chánh - Ngã Ba Sông

            Hòa Chánh là một xã của huyện U Minh Thượng, địa giới của xã nằm ngay góc ngã ba sông cái lớn và một nhánh kinh được quy định là ranh giới giữa 2 huyện Gò Quao và U Minh Thượng. Mảnh đất này con sông này đã in sâu những chuyện thăng trầm về lịch sử hình thành và phát triển. Xã Hòa Chánh được thành lập vào năm 2003 tách ra từ xã Vĩnh Hòa là xã mới nhưng đây không phải là vùng đất mới bởi những lăng mộ đình làng có niên đại hàng trăm năm đến nay vẫn còn tồn tại đó là dấu tích của quá trình khai khẩn định cư trong quá khứ. Trên vùng đất ngã ba sông này có một địa danh hình thành từ rất lâu đó là ngã Ba Tàu. Ngày nay, người ta gọi là Xép Ba Tàu một cái tên nghe thật lạ nhưng có vẻ rất liên quan đến văn hóa và đời sống của cư dân miền sông nước. Ông Nguyễn Văn Năm nay ông  đã ngoài 80 tuổi nhưng giọng vẫn rất khỏe khoắn đã kể cho chúng tôi nghe rành rọt về mảnh đất nơi mình cư ngụ. Bởi ông là dân địa phương chính gốc và là cựu chiến binh từng hoạt động cách mạng ở vùng đất này trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Ông Năm kể: “ Đời ngày xưa ông cha ta đặt là cái Xép Ba Tàu. Nó có 3 ngã, 1 đường về Ba Đình về Vĩnh Thuận về Chắc Băng cũng được, một đường về huyện Gò Quao, một đường về Xẻo Rô. Kênh rạch tàu lớn chạy không được, thành ra chỗ này trước đây lịch sử là cùng lúc ba tàu, ghe xuồng nhỏ của nhân dân ta đều chạy được hết. Năm 1957-1958 lúc đó nhân cách mạng ta đánh chìm ba chiếc tàu của địch, một tổ đóng quân 3 người  đem trái bom âm tại đất, chặt sống lá rồi gài lại, 1 trái u bít 105 kèm 2 trái kè cặp sát trái bom, đem xuống đất âm đàng hoàng xong, một đội trưởng leo lên cây bần chờ tàu của Mỹ tới, trên bờ có tổ hai người, có người ra hiệu lệnh tàu đã tới ngay địa điểm thì quân ta trên bờ cho nổ bom, khi nổ ngay chiếc tàu thì xác của tàu tan thành tro bụi và quân địch đều chết."

            Thiên nhiên sông nước miền quê nơi đây với hàng hàng những cây dừa nước ở ven hai bờ sông bỗng toát lên vẻ đẹp hồn nhiên đậm chất quê hương mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này. Dọc theo sông cái lớn kênh rạch…. Đâu đâu nơi đây đều có cây dừa nước đó là hình ảnh đặc trưng của vùng này. Không ai biết được cây dừa nước hiện hữu ở đây từ khi nào, dân chỉ nói lại: Từ thời tổ tiên đi mở đất, cây dừa nước đã sinh trưởng nơi này, chúng có sức sống mãnh liệt thích nghi được với hầu hết các dạng thổ nhưỡng và môi trường nước, thậm chí trong thời kháng chiến giặc Mỹ đã rải thuốc độc để tiêu diệt cây cỏ ở vùng này, nhưng không lâu sau đó, cây dừa nước lại tự hồi sinh và phát triển thành rừng che chắn cho dân trước những làn tên mũi đạn. Cây dừa nước đã gắn bó với đời sống cư dân từ buổi sơ khai. Khi ấy cây lúa nước cũng được mang theo đến nơi này tuy nhiên do đây là vùng đất nhiễm phèn, mùa mưa nước ngọt, mùa nắng nước biển tràn vào mặn đắng nên năng suất thấp nên không thể tăng canh mùa vụ, hoa màu cũng không sống được. Cư dân phần lớn khai thác thêm từ nguồn lợi sinh sôi trong cuộc sống tự nhiên. Trong đó cây dừa nước là chủ yếu, làm công dụng làm nhà ở cây dừa nước đã mang lại nguồn kinh tế giúp cho dân no lòng khi hạt lúa chưa thể thành cơm. Mãi đến nay, cả nước đang phát triển vùng đất nông thôn mới các địa phương ở nông thôn đều phát triển, nhà lá không còn nhiều tuy nhiên cây dừa nước vẫn đang đồng hành trong cuộc sống của người dân ở địa phương này, giá trị kinh tế từ dừa nước không cao nhưng cũng góp phần vào việc ổn định cuộc sống cư dân của những địa phương đang phát triển  trong đó có xã Hòa Chánh. Dưới những bụi dừa nước ven sông là môi trường sống của những thủy sản đặc biệt là con vọp lá, trước kia người dân địa phương chỉ bắt con vọp để ăn. Những năm gần đây giao thông nông thôn phát triển con vọp trở thành sản phẩm giao thương với các vùng lân cận do vậy mà vọp sống trong tự nhiên trở thành đặc sản giới thiệu vùng đất Hòa Chánh đến với khách gần xa.

=> Các bạn có thể click [Tại đây] để biết được vị trí ngã ba sông của xã Hòa Chánh

                4. Những câu chuyện nói về địa danh "Nhà Ngang, Kè Một, Cây Bàng"

        Ở xã Vĩnh Hòa có câu ca dao rằng:

             “ Nhà Ngang, Kè Một, Cây Bàng”

       Ngược xuôi in dấu chân chàng, chàng ơi!”

     Có lẽ đây là một dụng ý nói về người vợ thủy chung từ miệt trên lần dò xuống xã Vĩnh Hòa để tìm chồng qua hai mươi năm xa cách. Người chồng ấy là ai? Cái tên trong truyền thuyết chỉ gọi là “ Anh Hai”, mà “ Anh Hai” có nghĩa là một người đứng đầu trong đàn em, một người được mọi người chung quanh tôn trọng.

Truyện rằng;

      “Anh Hai là một nông dân ở miệt trên. Anh có sức vóc to lớn, khỏe mạnh, tính nết hiền lành và cương trực. vợ anh là một cô gái dịu dàng, xinh xắn, đang mang thai. Tên hương quản trong làng thấy chị Hai đẹp, hắn buông lời trêu ghẹo và sàm sở muốn cưỡng bức chị. Anh hai vốn ghét tên hương quản hống hách này từ lâu, nay hắn xúc phạm gia đình anh, anh đâm chết nó. Trước khi ra đi anh căn dặn lại vợ: “ Bao giờ đứa con đúng 20 tuổi, mình dắt nó xuống miệt dưới tìm tôi, cứ thấy con rạch nào có nhà bắc ngang qua sông là tôi ở đó”. Anh Hai vác phảng xuống xuồng bơi đi. Anh đi tới miệt U Minh Thượng khỉ ho cò gáy, không vết chân người. Anh đến một vàm rạch nhỏ cong queo bên bờ sông Cái Lớn, cất căn nhà lót sàn ngang qua ( vì ở đây đất bùn không đắp nền được) để trú ngụ, vừa làm tín hiệu cho vợ con tìm đến. Anh hai phá rừng, đắp bờ làm rẫy. Từ đó có thêm những gia đình mới đến, họ cất nhà thành xóm, cái xóm mới nhà nào cũng lót sàn đâm ngang qua sông, họ gọi là xóm “ Nhà Ngang” (tại vàm rạch Nhà Ngang cũ ngày nay). Mấy năm sau, bọn cường hào đến chúng bắt tất cả phải liệt kê tên họ, lập bộ sổ để nộp thuế. Khí giận tràn hông, anh Hai thét lên một tiếng, hô tráng đinh tràng tới, tên cường hào cùng bọn tay chân hoảng sợ bỏ chạy. Anh Hai phóng cho tên cường hào một chĩa, nó nhào tuột xuống sông giẫy chết. Trót hai lần can án mạng, anh Hai phải trốn đi xứ khác. Anh dặn lại: “Chừng nào vợ tôi tới tìm, bà con chỉ thẳng vô ngọn rạch này, thấy nhà nào có cây kè là tôi ở đó”. Cũng như lần trước anh Hai vác phảng xuống xuồng chống đi. Tới một nơi có thể tạm trú, anh Hai dựng lên túp lều trồng một cây kè gần bên để làm tín hiệu cho vợ con tìm. Dần dần những năm sau đó, có nhiều gia đình tới ở thành xóm. Giữa xóm có một cây kè, người ta gọi là xóm “Kè Một”. Rồi lại một hôm, bọn cường hào kéo đến, chúng bắt bà con xóm kè một lập thành thôn, phải kê khai nhân khẩu và đóng nhiều thứ thuế. Bấy giờ anh Hai dẫn đầu toàn thể tráng đinh xóm Kè Một chống lại chúng. Một trận xáp chiến! tên cường hào bị anh Hai đâm một chĩa vào ngực, chết tốt, đám tay chân rùng rùng bỏ chạy.  Chuyện xong, anh Hai nói; “ Tôi trót ba lần can án mạng, phải bỏ xứ này đi cho khỏi lụy bà con. Khi nào vợ tôi tới bà con chỉ giùm ngôi nhà nào có trồng một cây bàng là tôi ở đó”. Rồi anh Hai vác phản xuống xuồng đi. Sau đó thấy một nơi cư trú được, anh Hai đắp nền cất nhà và trồng một cây bàng gai bên cạnh. Dần dần những năm sau, dân nghèo, dân can án với bọn áp bức miệt trên dồn xuống ở với anh Hai. Tạo thành xóm đông đúc. Giữa xóm có một cây bàng gai lớn, người ta gọi là xóm “Cây Bàng”. Kế tiếp, xóm Cây Bàng cũng bị bọn cường hào kéo tới lấn chiếm. Anh Hai nói với mọi người:” Mình lùi hoài, chúng lấn tới hoài. Muốn giữ được xóm làng, mình phải trụ lại đánh chúng”. Toàn thể dân trong vùng ủng hộ anh Hai. Bọn cường hào có nhiều lần lấn chiếm nhưng đều bị đánh lùi, buộc chúng phải nhượng bộ.  Kể từ ngày anh Hai xa vợ con ra đi tính đã 20 năm. Đứa con trai của anh đã lớn khôn. Y hẹn, hai mẹ con chị xuống xuồng bơi về miệt U Minh Thượng. Chị đến xóm Nhà Ngang, hỏi thăm, bà con chỉ lên xóm cây bàng. Tới đây, vợ gặp chồng, cha gặp con niềm vui không xiết kể! Từ đó về sau xóm Cây Bàng thêm đông vui, thêm rộng lớn ra. Bà con thương yêu đùm bọc lẫn nhau, sống một cuộc đời yên ấm và với tư thế sẵn sàng đánh bại bất cứ kẻ nào đến cướp giật thành quả lao động của mình. Anh Hai được nhân dân vùng này coi như một thủ lĩnh…

     Đây là truyền thuyết theo ca dao, nhưng nó có tính chất giáo dục mọi người phải có ý chí, phải biết đoàn kết. bám trụ chống lại kẻ thù, mới mong được tự do yên ấm.

=> Các bạn có thể xem đoạn video nói về những chiến tích lịch sử U Minh Thượng

Chia sẻ:

Bình luận

Bài viết liên quan

GIANG- 0888837017 02973883454